Vị Chủ tịch Quốc hội và người đại biểu

Quốc hội khóa VIII (1987-1992) thông qua số văn bản pháp luật nhiều hơn bảy khóa trước cộng lại, đặt nền cho Đổi mới. Dù là Chủ tịch Quốc hội khóa VIII hay đại biểu khóa IX, X, ông Lê Quang Đạo - cha tôi - vẫn giữ nguyên cách làm việc: lắng nghe và nghĩ xa hơn.

Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo phát biểu
Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo phát biểu

1. Cuối tháng 6-1988, kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa VIII diễn ra một điều chưa từng có: phóng viên và máy quay được vào phòng họp. Cánh cửa ấy mở ra từ một quan niệm giản dị: muốn có sự đồng thuận của nhân dân, hoạt động của Quốc hội phải được nhân dân cùng thấy.

Quốc hội khóa VIII bắt đầu nhiệm kỳ năm 1987, khi Đổi mới vừa được khởi xướng và đời sống còn ngổn ngang khó khăn. Mỗi kỳ họp chỉ kéo dài mười ngày đến nửa tháng, trong khi khối lượng việc cần luật hóa rất lớn. Người được bầu làm Chủ tịch Quốc hội chưa có ngày nào làm việc ở nghị trường. Trả lời báo chí, cha tôi bộc bạch chưa bao giờ nghĩ sẽ gánh trọng trách này, và nói rõ quyết tâm: “Không thể kéo dài mãi chủ nghĩa hình thức, quan liêu ở ngay cơ quan quyền lực tối cao của đất nước”.

Năm năm sau, khóa VIII để lại Hiến pháp 1992, hai bộ luật, hai mươi chín luật và hơn ba mươi pháp lệnh. Thứ tự ban hành các đạo luật phản ánh nguyên tắc ưu tiên đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của kinh tế: Luật Đất đai, Luật Đầu tư nước ngoài và các quy định về xuất nhập khẩu tạo thành thế kiềng ba chân. Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân tiếp nối, mở ra cơ sở pháp lý để người dân yên tâm đầu tư sản xuất, kinh doanh. Trong nhiệm kỳ này, Luật Quốc tịch năm 1988 và các luật thuế năm 1990 được thông qua.

Phương thức làm việc của Quốc hội cũng thay đổi. Tháng 6-1988, khi bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Trung ương giới thiệu một người, nhiều đoàn đại biểu đề cử thêm một người. Được Bộ Chính trị đồng tình, cha tôi chủ tọa phiên bầu cử với danh sách có tên cả hai người. Ông Đỗ Mười có số phiếu cao hơn làm Chủ tịch, người ít phiếu hơn làm Phó Chủ tịch.

Hiến pháp 1992 qua bốn lần dự thảo, như một nghiên cứu khoa học được kiểm chứng nhiều lần cho đến khi có kết quả. Cuối nhiệm kỳ, báo cáo tổng kết dành nhiều phần phân tích thiếu sót của chính Quốc hội và các đại biểu, và kết luận: hoạt động của Quốc hội có hiệu quả nhờ sinh hoạt dân chủ, một mặt huy động sức của đại biểu, mặt khác thông tin đến được với nhân dân. Báo cáo cũng kiến nghị có nhiều đại biểu chuyên trách và để Quốc hội tự quyết định ngân sách của mình, những điều nay đã được thực hiện.

2. Những người cùng làm việc nhớ về một vị chủ tọa ít khi phát biểu trước, thường lắng nghe đầy đủ các ý kiến rồi mới kết luận. Ông Vũ Mão, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhận xét cha tôi “cởi mở mà thẳng thắn, khéo léo linh hoạt mà kiên quyết”. Khi tranh luận căng thẳng về câu chữ, một câu dí dỏm bỏ lửng của ông làm hội trường bật cười. Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Phó Chủ tịch Quốc hội, có lần muốn trở về nghề y. Lời khuyên bà nhận được từ cha tôi: “Theo tôi ở cương vị công tác nào mà mình cảm thấy mình làm không hiệu quả thì mình thấy không hạnh phúc”. Cuối nhiệm kỳ, ông đã có sẵn người kế nhiệm để giới thiệu.

Picture1.png
Chính ủy chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh 1968, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị

Rời ghế chủ tịch, cha tôi chuyên trách công tác Mặt trận Tổ quốc và tiếp tục là đại biểu khóa IX, X. Khi là chủ tọa, ông góp phần mở rộng chỗ cho đại biểu. Khi làm đại biểu, ông dùng chính vị trí này góp ý những đạo luật đã ra đời trong nhiệm kỳ của mình.

Tháng 4 năm 1997, Quốc hội khóa IX xem xét hai luật thuế mới: Thuế giá trị gia tăng thay Thuế doanh thu, Thuế thu nhập doanh nghiệp thay Thuế lợi tức, hai luật đã có năm 1990. Ngày 10-4, cha tôi - lúc ấy là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam - thay mặt MTTQ Việt Nam, phát biểu tán thành hướng đổi mới. Song số liệu thí điểm ở mười một doanh nghiệp dệt, đường, xi măng cho thấy cần thận trọng: thuế phải nộp tăng mạnh, có nơi chuyển từ lãi sang lỗ. Câu hỏi được đặt ra trước Quốc hội: Khi áp dụng trên toàn quốc sẽ xảy ra những vấn đề gì về giá cả và lạm phát?

Trước đó, cha tôi đã gặp nhiều chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỏi thu thuế thế nào để cơ sở còn lớn lên được. Từ những cuộc gặp ấy, MTTQ Việt Nam đưa ra các đề xuất cụ thể. Trước khi áp dụng, cần tính thử song song theo thuế cũ và thuế mới để đối chiếu. Trong thời gian chuẩn bị, cần thống nhất loại hóa đơn, bồi dưỡng cán bộ thuế, hướng dẫn doanh nghiệp ghi chép sổ sách, bởi sắc thuế mới chỉ vận hành tốt khi mỗi khoản khấu trừ đều đúng. Thuế thu nhập doanh nghiệp nên chia thành hai, ba mức để doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tái đầu tư. Các đề xuất cùng hướng tới một mục tiêu: “nuôi dưỡng nguồn thu, nuôi dưỡng sức dân”.

Ngày 10-5-1997, hai luật được thông qua. Một số đề xuất được tiếp thu, nhưng thuế thu nhập doanh nghiệp vẫn giữ một mức chung 32%; đề nghị chia nhiều mức thuế suất cho doanh nghiệp nhỏ chưa được đưa vào luật.

Thực tiễn những năm sau đã trả lời các băn khoăn ấy. Mức thuế suất chung được hạ dần qua các lần sửa luật và năm 2025, doanh nghiệp nhỏ đã có mức thuế suất riêng, thấp hơn. Sự thận trọng về hóa đơn, sổ sách cũng có cơ sở: hóa đơn điện tử nay đã bắt buộc với doanh nghiệp. Những đề nghị năm ấy đã thành hiện thực.

3. Năm 1998, Quốc hội khóa X xem xét Luật Quốc tịch mới, thay thế đạo luật khóa VIII thông qua mười năm trước. Theo dõi kỳ họp qua truyền hình, nhiều người Việt ở Nga, Mỹ và Đông Âu gọi điện về bày tỏ lo lắng: luật mới có thể buộc họ từ bỏ quốc tịch Việt Nam, trong khi công việc, nhà cửa, việc học của con cái gắn với quốc tịch nơi cư trú.

Đề nghị của MTTQ Việt Nam gửi Bộ Chính trị và Ủy ban Thường vụ Quốc hội mở đầu: “Đây là một vấn đề lớn, ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng tình cảm của gần 2,5 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Văn bản không phản đối nguyên tắc một quốc tịch mà đưa ra hai phương án: hoãn thông qua để “cân nhắc cho có đủ độ chín”, hoặc nếu thông qua ngay thì không hồi tố, để người đang có quốc tịch Việt Nam không bị mất quốc tịch. Giữ vững cái gốc, linh hoạt trong cách áp dụng: đó là sự thỏa hiệp có nguyên tắc vốn đã thành nếp từ khóa VIII. Mục đích gói trong một câu: “kéo họ gần thêm, gắn bó thêm với đất nước, mà không đẩy họ xa thêm Tổ quốc Việt Nam hơn nữa”.

Picture3.png
Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Lê Quang Đạo phát biểu tại một sự kiện, năm 1997

Ngày 20-5-1998, luật được thông qua theo phương án thứ hai: người đang có quốc tịch Việt Nam vẫn giữ quốc tịch, không phải đăng ký lại. Giáo sư Lưu Văn Đạt còn nhớ “nét mặt rạng rỡ, tiếng cười sảng khoái” của cha tôi hôm báo tin. Nhiều kiều bào gửi thư về bày tỏ niềm vui. Một năm sau ông ra đi, kịp mang theo niềm vui này trong chặng đường mãi xa.

Luật Quốc tịch năm 2008 cởi mở hơn, nhưng lại buộc người Việt ở nước ngoài đăng ký giữ quốc tịch trong 5 năm. Đến năm 2014, chỉ vài ngàn người trong hàng triệu kiều bào làm thủ tục đăng ký. Quốc hội bãi bỏ quy định này, trở lại đúng tinh thần không hồi tố đã được đề nghị năm 1998. Năm 2025, người nhập tịch được giữ quốc tịch nước ngoài nếu pháp luật nước sở tại cho phép và Chủ tịch nước đồng ý. Cách tiếp cận “vừa khẳng định nguyên tắc, vừa vận dụng mềm dẻo” của cha tôi đã giúp các đề xuất năm ấy trở thành điều khoản luật hôm nay.

Từ ghế chủ tọa đến hàng đại biểu, cách làm việc của cha tôi không đổi: lắng nghe, nói điều cần nói theo cách người khác còn muốn nghe, và nghĩ xa.

Những tháng cuối đời, cha tôi dồn sức hoàn thiện dự thảo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Giáo sư Vũ Đình Cự, Phó Chủ tịch Quốc hội, kể lại buổi họp góp ý cuối cùng: tuy đã phải đeo máy trợ thính, cha tôi vẫn cầm quyển vở đến sát từng người phát biểu để nghe cho rõ, “dù mọi người can, đồng chí vẫn cười và làm như thế”.

Luật được thông qua. Đến chúc mừng cha tôi, ông Cự nhận được một nụ cười “rất tươi, rất ‘trẻ thơ’”, mà ông không ngờ lại là nụ cười từ biệt.

Một người cả đời lắng nghe vẫn luôn lo mình chưa nghe đủ, khi cao tuổi cần đến chiếc máy để nghe cho trọn.

Tin cùng chuyên mục