Từ thế mạnh học thuật đến động lực phát triển

Theo Bảng xếp hạng các ngành học toàn cầu GRAS 2026, Việt Nam có 8 cơ sở giáo dục đại học góp mặt, trong đó có 3 trường ở TPHCM với 7 lượt ngành.

Đại học Kinh tế TPHCM có ngành Tài chính thuộc nhóm 101-150 thế giới, Kinh tế học và Quản trị kinh doanh cùng nhóm 301-400.

Trường Đại học Tôn Đức Thắng có hai ngành Kỹ thuật cơ khí và Kỹ thuật xây dựng thuộc nhóm 301-400.

Đại học Y Dược TPHCM có ngành Y tế công cộng thuộc nhóm 201-300 và Y học lâm sàng thuộc nhóm 401-500. Điều nhiều người quan tâm là những thế mạnh học thuật được quốc tế ghi nhận có thể đóng góp gì cho các mục tiêu phát triển của TPHCM?

Có thể thấy, ngành Tài chính thuộc nhóm 150 thế giới mở ra khả năng đóng góp về nghiên cứu, chính sách cho mục tiêu phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam.

Các ngành Cơ khí và Xây dựng thuộc nhóm 400 có nhiều dư địa tham gia giải quyết những yêu cầu về hạ tầng giao thông, công nghiệp, nhất là khi thành phố đang đầu tư lớn vào metro, đường vành đai, khu công nghiệp. Trong khi đó, Y tế công cộng và Y học lâm sàng có thể đóng góp thiết thực cho hệ thống chăm sóc sức khỏe, nhất là các bệnh viện tuyến cuối phía Nam.

Thứ hạng quốc tế còn là “giấy giới thiệu” để thu hút giảng viên, sinh viên nước ngoài, đối tác nghiên cứu và doanh nghiệp FDI cần nhân lực chất lượng cao. Đằng sau những con số là nguồn lực đào tạo lớn.

Đại học Quốc gia TPHCM có hơn 98.000 sinh viên và hơn 10.000 học viên sau đại học, mỗi năm cung cấp khoảng 15.000 nhân lực trình độ cao. Đại học Y Dược TPHCM đào tạo hơn 15.000 người học; Trường Đại học Văn Lang có hơn 40.000 sinh viên, gần 3.000 sinh viên quốc tế. Cùng với hàng chục trường khác, đây là nguồn lực tri thức quan trọng của thành phố.

Tuy vậy, từ thứ hạng quốc tế đến khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển vẫn còn khoảng cách. GRAS chủ yếu đánh giá năng lực nghiên cứu qua các chỉ báo về đội ngũ học thuật, thành tựu nghiên cứu, chất lượng công bố khoa học, mức độ tác động và hợp tác quốc tế, không trực tiếp đánh giá chất lượng đào tạo hay hiệu quả ứng dụng nghiên cứu vào thực tiễn.

Ở Bảng xếp hạng học thuật các trường đại học thế giới (ARWU) năm 2026, không có đại diện Việt Nam trong nhóm 1.000 trường hàng đầu. Dù phương pháp đánh giá khác nhau, các bảng xếp hạng cũng cho thấy bên cạnh thế mạnh ở một số lĩnh vực mũi nhọn, các trường vẫn cần nâng cao năng lực nghiên cứu và chất lượng học thuật trên diện rộng.

Hơn nữa, những thế mạnh hiện có chưa bao quát hết các yêu cầu phát triển của thành phố. Sau hợp nhất, TPHCM có diện tích hơn 6.700km2, trên 14 triệu dân, hơn 7,5 triệu lao động và khoảng 80 trường đại học.

Các giảng đường vẫn ở vị trí cũ, nhưng không gian phát triển đã mở rộng, đặt ra những yêu cầu mới, phức tạp hơn đối với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo. Những vấn đề như ngập nước, ùn tắc giao thông, rác thải, di cư, già hóa dân số đều cần cách tiếp cận liên ngành, kết hợp kỹ thuật, kinh tế, xã hội học, nhân học, luật và quy hoạch.

Vì vậy, việc mở rộng phạm vi áp dụng cơ chế đặt hàng nghiên cứu là yêu cầu cấp thiết. TPHCM đã có khuôn khổ chính sách về đào tạo nhân lực trình độ cao, nghiên cứu vật liệu tiên tiến và đặt hàng một số ngành, lĩnh vực; cần sớm mở rộng sang các vấn đề đô thị, xã hội.

Cùng với đó, cần tạo điều kiện hơn nữa để nhiều cơ sở giáo dục đại học tham gia, kể cả trường tư thục và trường có vốn nước ngoài, đồng thời chú trọng tổ chức thực hiện để các kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn.

Thứ hạng quốc tế ghi nhận năng lực nghiên cứu của nhà trường, nhưng thước đo quan trọng hơn chính là những đóng góp của hoạt động nghiên cứu đối với sự phát triển của thành phố và chất lượng sống của người dân.

Tin cùng chuyên mục