Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định rõ định hướng: “Tự chủ chiến lược, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững”. Đây là kim chỉ nam quan trọng để định hình lại mô hình tăng trưởng, chuyển từ nền kinh tế phụ thuộc sang nền kinh tế có năng lực nội sinh mạnh mẽ.
Thực tế, mức độ tự chủ chiến lược của Việt Nam hiện nay còn hạn chế. Nền kinh tế có độ “mở” lớn nhưng lại dễ bị tổn thương trước các biến động địa chính trị và những rào cản thương mại ngày càng gia tăng. Trong đó, một nghịch lý đang tồn tại: hội nhập càng sâu thì mức độ phụ thuộc vào khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) càng gia tăng. Khu vực này đang chi phối các lĩnh vực then chốt như xuất khẩu và công nghiệp chế biến, chế tạo, trong khi doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu gia công với giá trị gia tăng thấp.
Bên cạnh đó, mô hình tăng trưởng hiện nay đang dựa quá nhiều vào vốn tín dụng ngân hàng, với tỷ lệ dư nợ đã lên tới 146,5% GDP. Đáng lưu ý, dòng vốn này đang được phân bổ chưa hợp lý, chảy mạnh vào bất động sản và các nhóm lợi ích nhằm khai thác địa tô, thay vì đầu tư cho sản xuất, công nghệ hay nghiên cứu và phát triển. Hệ quả là nền kinh tế rơi vào một vòng lẩn quẩn: muốn tăng trưởng phải nới tín dụng, nhưng nới tín dụng lại làm gia tăng rủi ro bất ổn vĩ mô, đồng thời thu hẹp dư địa điều hành chính sách.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa trên quy mô, vốn và lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên năng suất và công nghệ để kiến tạo nền tảng tự chủ chiến lược. Thay vì duy trì mô hình hiện nay (nơi vốn tín dụng tập trung chủ yếu vào bất động sản, và đất đai bị coi như một loại tài sản đầu cơ), cần chuyển sang một hệ thống trong đó đất đai được xác định là tư liệu sản xuất khan hiếm và được phân bổ cho những chủ thể tạo ra giá trị sử dụng cao nhất. Trong mô hình mới, Nhà nước cần từng bước rời bỏ cơ chế “xin - cho” trong thu hút FDI, chuyển sang phương thức “đàm phán FDI”, chỉ lựa chọn, ưu tiên những dự án có khả năng nâng cao hàm lượng công nghệ và tạo liên kết thực chất với chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước.
Để tạo ra sự thay đổi thực chất, không thể chỉ dừng lại ở việc sửa đổi một số điều luật mang tính cục bộ. Điều cần thiết là xây dựng một lộ trình cụ thể nhằm tái thiết hệ thống pháp luật kiến tạo phát triển, theo tinh thần chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Cụ thể, 1-2 năm tới, cần ưu tiên thực hiện các mục tiêu cấp bách, trong đó trọng tâm là thực hiện đầy đủ các cam kết cải cách đã được công bố: bãi bỏ các rào cản bất hợp lý đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh; cắt giảm ít nhất 30% điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính hiện hành. Quan trọng hơn, cần thay đổi cách tiếp cận, đứng về phía người dân và doanh nghiệp để xác định những rào cản cần loại bỏ, thay vì để các cơ quan quản lý tự quyết định. Từ 3-5 năm tiếp theo, thành lập các nhóm nghiên cứu độc lập để thiết kế một hệ thống pháp luật mới, lấy sự an toàn pháp lý cùng niềm tin của người dân và doanh nghiệp làm thước đo cao nhất.
Trong đó, về kinh tế, xây dựng khung pháp lý cho cơ chế thử nghiệm (sandbox), tạo không gian an toàn cho các mô hình kinh doanh mới, trí tuệ nhân tạo (AI) và hoạt động đổi mới sáng tạo. Về nguồn lực, xây dựng luật thuế bất động sản mới nhằm hạn chế đầu cơ, đưa đất đai trở về đúng vai trò là tư liệu sản xuất. Về dữ liệu, bổ sung thêm những quy định pháp luật về dữ liệu để khắc phục tình trạng “cát cứ”, thúc đẩy việc chia sẻ dữ liệu công, bởi dữ liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được khai thác và sử dụng hiệu quả.
Hội nhập là điều kiện cần, nhưng cải cách thể chế thực chất và nâng cao năng lực nội sinh mới là điều kiện đủ để Việt Nam vươn mình. Tự chủ chiến lược không phải là khẩu hiệu, mà là một lộ trình hành động bền bỉ nhằm bảo đảm quyền được phát triển trong một thế giới nhiều biến động. Đây là thời điểm thuận lợi để hành động, đòi hỏi sự quyết liệt và không thể chậm trễ hơn nữa.
TS NGUYỄN ĐÌNH CUNG
Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương