Khơi mạch Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - Bài 3: Hồi sinh giá trị một di sản

Tại các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, nhiều chính sách đang được triển khai nhằm bảo tồn và phát huy giá trị Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, gắn với phát triển du lịch và tạo sinh kế cho cộng đồng. Tuy nhiên, sự thu hẹp không gian sinh hoạt cồng chiêng tại buôn làng và xu hướng sân khấu hóa hoạt động biểu diễn đang đặt ra nguy cơ mai một giá trị nguyên bản của di sản.

Bảo tồn dựa vào cộng đồng

Đêm xuống bên hồ Lắk (xã Liên Sơn Lắk, tỉnh Đắk Lắk), ánh lửa bập bùng giữa không gian Pai R’lăm cũng là lúc tiếng cồng chiêng vang vọng giữa đại ngàn. Trong vòng xoang rộn rã, du khách nắm tay những người đồng bào M’Nông hòa vào nhịp bước truyền thống. Có được không gian ấy là nhờ tâm huyết của anh Y Lâm Đăng Bing (33 tuổi, xã Liên Sơn Lắk).

Năm 2019, Y Lâm xây dựng mô hình Pai R’lăm với mong muốn tái hiện không gian sống, ẩm thực, lễ hội và giá trị văn hóa truyền thống của người M’Nông. Những chiếc gùi, nỏ, xà gạt, chăn thổ cẩm… trở thành "chứng nhân" kể câu chuyện về đời sống của đồng bào. Điểm nhấn của Pai R’lăm là những đêm trình diễn cồng chiêng của các nghệ nhân trong buôn, kể chuyện văn hóa và giao lưu với du khách; giúp du khách hiểu hơn về bản sắc Tây Nguyên, tạo thêm thu nhập cho nghệ nhân.

Các nghệ nhân biểu diễn cồng chiêng tại Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk). Ảnh - MAI CƯỜNG.JPG
Các nghệ nhân biểu diễn cồng chiêng tại Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk). Ảnh: MAI CƯỜNG

Ông Trần Hồng Tiến, Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Đắk Lắk, cho rằng, bảo tồn cồng chiêng không dừng lại ở việc lưu giữ hiện vật, phục dựng lễ hội, mà là tạo môi trường để di sản hiện diện trong đời sống đương đại. Khi nghệ nhân được truyền dạy, biểu diễn đúng không gian văn hóa, hưởng thành quả từ giá trị mình gìn giữ và khi lớp trẻ tự hào tiếp nối tiếng chiêng của cha ông thì Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên mới thực sự có sức sống lâu bền.

Vì lẽ đó, ngành văn hóa tỉnh Đắk Lắk định hướng bảo tồn dựa vào cộng đồng, lấy nghệ nhân, người thực hành và thế hệ trẻ làm chủ thể di sản; mở lớp truyền dạy tại buôn làng, trường học và thiết chế văn hóa; phục dựng, duy trì các lễ hội truyền thống gắn với không gian diễn xướng nguyên bản; bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch văn hóa và kinh tế cộng đồng.

Tại tỉnh Gia Lai, vào tháng 2-2026, UBND tỉnh đã triển khai đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng; giao nhiều nhiệm vụ như: điều tra, kiểm kê, cập nhập số lượng cồng chiêng, nghệ nhân trình diễn, truyền dạy, chỉnh chiêng; phục dựng nghi lễ, lễ hội có sử dụng cồng chiêng; truyền dạy đánh chiêng, chỉnh chiêng tại địa phương và trường học; tổ chức chương trình "Cồng chiêng cuối tuần - thưởng thức và trải nghiệm” tối thứ bảy hàng tuần tại Quảng trường Đại Đoàn Kết (phường Pleiku).

Tham gia có các đoàn nghệ nhân các dân tộc Ba Na, Ja Rai, Chăm Hroi, H'rê... từ nhiều địa phương, mang đến những màn trình diễn cồng chiêng, nhạc cụ dân tộc, dân ca, múa dân gian. Ghi nhận cho thấy, chương trình thu hút đông đảo người dân và du khách đến thưởng thức, góp phần đưa Không gian văn hóa cồng chiêng đến gần hơn với công chúng.

Những năm gần đây, du lịch cộng đồng tại khu vực phía Tây Quảng Ngãi thu hút đông đảo du khách và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản tạo nên sức hấp dẫn riêng. Tiếng cồng chiêng, điệu múa truyền thống, các nhạc cụ dân tộc mang đến cho du khách những trải nghiệm đặc sắc, giúp họ hiểu hơn về đời sống, phong tục, tập quán và bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số. Thông qua các hoạt động biểu diễn, trải nghiệm văn hóa, người dân có thêm thu nhập, thêm động lực gìn giữ, truyền dạy và phát huy giá trị di sản.

Đưa cồng chiêng về lại buôn làng

Trong căn nhà dài ở buôn Cư Dluê (xã Hoà Phú, tỉnh Đắk Lắk) ông Y Khiêm Ê Ban chậm rãi lau chùi 4 bộ cồng chiêng quý được cất giữ cẩn thận. Cạnh đó là hàng chục ché rượu cần cổ, ghế Kpan, nỏ, mác và nhiều hiện vật gắn bó với đời sống người Ê Đê qua nhiều thế hệ. Với ông, đó không chỉ là những hiện vật cổ mà là tài sản vô giá của dòng tộc.

Ông kể, để sở hữu 1 bộ cồng chiêng quý, tổ tiên phải đổi bằng hàng chục con trâu, bò. Ché rượu cần lớn đổi bằng 1 con trâu, ché nhỏ tương đương 1 con bò hoặc nhiều con heo và là niềm tự hào của dòng họ.

Năm 2005, khi ngôi nhà dài của gia đình xuống cấp nghiêm trọng, ông quyết phục dựng dù điều kiện không như trước. Do khan hiếm gỗ lớn và vật liệu truyền thống, nhiều cột gỗ được thay bằng cột bê tông, giữ một phần không gian để con cháu tiếp nối văn hóa của cha ông vì “không có nhà dài thì không còn không gian văn hóa của dân tộc. Người dân biết đánh cồng chiêng ở đâu, uống rượu cần ở đâu, sinh hoạt cộng đồng ở đâu?”. Cồng chiêng chỉ thực sự có giá trị khi được cất lên giữa không gian buôn làng, trong lễ hội truyền thống và cuộc sum họp của cộng đồng. Nếu chỉ treo trên vách, tiếng chiêng rồi sẽ dần mất đi linh hồn.

Nỗi trăn trở của ông Y Khiêm cũng là suy nghĩ của những cựu chiến binh có nhiều năm sống cùng đồng bào thiểu số gốc Tây Nguyên như ông Nguyễn Đức Phúc (người tiên phong làm du lịch sinh thái gắn với cộng đồng Tây Nguyên, hiện ở phường Xuân Hương - Đà Lạt).

cong-chieng-6162-1960.jpg
Biểu diễn cồng chiêng kết hợp các hoạt động văn hóa bản địa Tây Nguyên tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: ĐOÀN KIÊN

Ông chia sẻ trước hết, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là văn hóa cộng đồng. Điều đó có nghĩa các điệu múa, hát, điệu chiêng cúng Giàng hay mừng lúa mới đều diễn ra ở cộng đồng, gắn liền với sinh hoạt cộng đồng.

Trong khi đó, ngành văn hóa lại chú trọng tổ chức thi biểu diễn văn hóa cồng chiêng; mà đã đi thi thì người ta phải “làm cho hay lên, đưa âm thanh hiện đại vào, phải diễn trên sân khấu... khiến Không gian văn hóa cồng chiêng mai một". Văn hóa cồng chiêng cần gắn với rừng, không thể ở đồng bằng hay phố thị.

"Rừng chính là văn hóa, cần hiểu là rừng cấm, không được đốt, phá, phát rẫy; dù đồng bào có du canh du cư, phát nương làm rẫy thì vẫn có rừng, có văn hóa cộng đồng và người ta sinh hoạt văn hóa cồng chiêng ở buôn làng chứ không phải trên sân khấu”, ông Phúc bày tỏ.

Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền nhận định: Khi các nghi lễ cổ xưa không còn, có thể khuyến khích đồng bào khai thác giá trị nghệ thuật cồng chiêng, ẩm thực, thổ cẩm bản địa để phát triển du lịch. Làng Kép ở Ia Ly (Gia Lai) là một ví dụ. Khi người dân có sinh kế, họ sẽ có động lực để giữ gìn. Việc tỉnh Gia Lai duy trì chương trình cồng chiêng cuối tuần tại Quảng trường Pleiku cũng là cách làm hay.

Sau vài lớp chỉnh âm cồng chiêng được tổ chức ở Tây Nguyên, ông nhận xét: “Trước đây, nghề chỉnh chiêng là bí truyền, rất ít người biết. Khi đưa phương pháp khoa học vào đào tạo, phổ cập kỹ thuật gò chỉnh chiêng theo đúng thang âm cổ truyền, nhận thức của cộng đồng đã thay đổi”. Ông đặt hy vọng từ việc làm thầm lặng như nhiều bạn trẻ ở Ayun Pa tự sưu tầm và gò lại chiêng cổ hay cô giáo ở Trường nội trú Ia Grai (Gia Lai) tự lập dự án, mời nghệ nhân giỏi về dạy chiêng cổ cho học sinh…

Công tác bảo tồn cồng chiêng sẽ được lồng ghép hiệu quả vào Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Mục tiêu là đưa việc bảo tồn cồng chiêng trở thành hoạt động thường xuyên, gắn kết chặt chẽ với giáo dục, du lịch, sinh kế và đời sống cộng đồng.

Trao đổi với PV Báo SGGP, Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Hoàng Đạo Cương cho biết, Bộ VH-TT-DL xác định việc bảo đảm sức sống và tính liên tục của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó cộng đồng là chủ thể, nghệ nhân và người trực tiếp thực hành giữ vai trò trung tâm.

Trước hết, Bộ VH-TT-DL sẽ phối hợp chặt chẽ với các địa phương xây dựng và triển khai các đề án quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản bám sát thực trạng từng địa bàn; ưu tiên bảo vệ không gian thực hành cồng chiêng; củng cố đội ngũ nghệ nhân, thúc đẩy công tác truyền dạy cho thế hệ trẻ và duy trì sinh hoạt cồng chiêng trong đời sống.

Bên cạnh đó, bộ hướng dẫn triển khai Nghị định số 215/2025/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể trong danh sách của UNESCO, chính sách đãi ngộ cụ thể với nghệ nhân và chủ thể di sản.

Đặc biệt quan tâm và có cơ chế hỗ trợ kịp thời với nghệ nhân, người thực hành có năng lực, uy tín cao, trực tiếp nắm giữ và trao truyền tri thức di sản nhưng chưa được phong tặng danh hiệu.

Tin cùng chuyên mục