Điểm nghẽn về tài chính
Theo đánh giá của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, cho thấy, nguồn thu của các trường đại học tự chủ đều do người học đóng góp phần lớn (khoảng 80% trở lên), nhưng thực tế cơ cấu chi của các trường dành cho phục vụ đào tạo sinh viên rất thấp.
Cụ thể, nguồn kinh phí chi cho đào tạo chủ yếu chi cho con người (tiền lương, tiền công, tiền làm thêm giờ, phụ cấp theo chế độ) - chiếm tới 73%. Nguồn kinh phí dành cho tăng cường cơ sở vật chất (mua sắm, sửa chữa) chỉ chiếm 7%. Nguồn kinh phí khác chi cho hoạt động đào tạo chiếm 18%. Thu nhập người lao động (gồm thu nhập tăng thêm, tiền thưởng...) chiếm 2%. Qua đó, dễ thấy nguồn kinh phí chi tăng cường điều kiện dạy và học chiếm tỷ trọng thấp, nên khó nâng cao chất lượng dạy học. Việc quỹ lương hàng năm tăng 13%, nhưng chi thuê giảng viên tăng 32%, cho thấy yêu cầu chi tiền lương, tiền công cho bộ máy và giảng viên tăng nhanh, gây áp lực tăng thu, trong bối cảnh nguồn ngân sách cấp bị ngắt khi các trường tự chủ.
Một nghịch lý nữa là nguồn ngân sách cấp chưa tương xứng với chủ trương của Đảng và Nhà nước về ưu tiên đầu tư cho giáo dục. Tổng ngân sách cấp cho ngành giáo dục hàng năm tăng thấp hơn tốc độ tăng của các ngành khác và giảm nhiều hơn so với mức độ giảm các ngành khác (năm 2020, tổng chi ngân sách tăng 7% nhưng ngân sách cấp cho ngành giáo dục chỉ tăng 6,6%; năm 2021, tổng chi ngân sách cả nước giảm 3,4% nhưng ngân sách cấp cho ngành giáo dục giảm 4,7%). Theo quy định nêu trong Nghị quyết 29, chi cho giáo dục phải đạt 20% ngân sách; nhưng từ năm 2013 đến nay, chưa năm nào đạt đến con số này. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho các trường tự chủ trong đầu tư mua sắm trang thiết bị, cải tạo cơ sở vật chất.
Theo Bộ Tài chính, kinh phí từ ngân sách nhà nước của Việt Nam chi cho giáo dục đại học từ năm 2020 đến nay chiếm chưa tới 0,3% GDP, nhưng kinh phí thực chi chỉ đạt 0,18% GDP. Trong khi đó, con số thực chi ở Indonesia là 0,57%, Thái Lan 0,64%, Trung Quốc 0,87%, Singapore 1% và Malaysia là 1,13%.
ĐH Bách khoa Hà Nội có tổng thu năm 2024 hơn 1.502 tỷ đồng, trong đó học phí và lệ phí chiếm hơn 1.277 tỷ đồng (khoảng 85%). Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TPHCM) có tổng thu năm 2024 hơn 1.184 tỷ đồng (hỗ trợ chi thường xuyên từ Nhà nước/nhà đầu tư hơn 3 tỷ đồng), học phí chiếm khoảng 873 tỷ đồng (gần 74%). Thu từ khoa học và công nghệ đạt hơn 126,5 tỷ đồng.
Trường ĐH FPT có tổng thu năm 2024 đạt 4.376 tỷ đồng và học phí đóng góp tới 3.955 tỷ đồng (chiếm hơn 90%), Trường ĐH Nguyễn Tất Thành ghi nhận tổng thu năm 2024 là 1.669 tỷ đồng, trong đó thu từ GD-ĐT chiếm 1.654 tỷ đồng (chiếm 99,1%), Trường ĐH Công nghệ TPHCM có tổng thu hơn 1.380 tỷ đồng, chủ yếu từ học phí 1.309 tỷ đồng (chiếm gần 95%).
Hàng loạt thách thức
PGS Nguyễn Đức Minh, Trưởng khoa Điện tử, Trường Điện - Điện tử (ĐH Bách khoa Hà Nội), chỉ ra những khó khăn trong đào tạo hiện nay như: thiếu cơ sở vật chất chuyên sâu cho chip bán dẫn (phần mềm, máy móc đo kiểm, chế tạo thử nghiệm), học liệu và bài thí nghiệm chưa đồng bộ; số lượng giảng viên/sinh viên thấp, số lượng sinh viên học đúng chuyên ngành thấp.
Tương tự, PGS Trần Mạnh Hà, Phó trưởng Ban Đào tạo (ĐH Quốc gia TPHCM), thông tin, ĐH Quốc gia TPHCM đang xây dựng chương trình đào tạo kỹ sư tiên tiến ngành công nghệ vi mạch, tập trung vào chất lượng chứ không chạy theo số lượng. Mục tiêu đề ra là đến năm 2027, các trường thành viên sẽ đào tạo khoảng 1.000 kỹ sư công nghệ vi mạch. Tuy nhiên, khó khăn hiện nay chính là chưa có mã ngành thiết kế vi mạch, thiếu chính sách hỗ trợ đội ngũ giảng viên, chuyên gia và thu hút sinh viên giỏi, thiếu và không chia sẻ phòng thí nghiệm phục vụ đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu, thiếu trung tâm nghiên cứu thiết kế vi mạch kết nối doanh nghiệp với trường ĐH, chuyên gia, thực hành chế tạo, thử nghiệm và kiểm thử.
Nhìn vào doanh thu của các trường, sẽ thấy rõ gánh nặng học phí đè lên vai người học. Năm 2025, từ báo cáo công khai và thông tin của các trường, số đơn vị có doanh thu từ 1.000 tỷ đồng trở lên đã có hàng chục trường (năm 2020 chỉ có vài trường). Tuy nhiên, nguồn thu này chủ yếu đến từ học phí, còn thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Theo Bộ KH-CN, hiện nay, dự báo nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành công nghiệp bán dẫn và các ngành công nghệ số cốt lõi đến năm 2030 chưa được hoàn thành để làm cơ sở cho việc đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học. Cùng với đó, quá trình đào tạo, nghiên cứu còn có một số tồn tại, khó khăn lớn, gồm: hệ sinh thái bán dẫn trong nước chưa đồng bộ, năng lực công nghệ còn hạn chế, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, cơ sở hạ tầng và hệ thống 13 phòng thí nghiệm, công cụ thiết kế vi mạch bản quyền tại các viện, trường còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo thực tiễn.
Do đó, Bộ KH-CN kiến nghị, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, chính sách phát triển công nghiệp bán dẫn, ưu tiên đầu tư nhà máy chế tạo chip, phát triển hệ sinh thái bán dẫn toàn diện, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, hình thành các trung tâm nghiên cứu - phát triển và phòng thí nghiệm liên kết Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, qua đó tạo nền tảng lâu dài cho đào tạo và phát triển ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam.
Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam thời gian qua đã chủ động mở mới và triển khai các chương trình đào tạo chuyên ngành liên quan trực tiếp đến bán dẫn ở cả trình độ đại học và sau đại học; phát triển đội ngũ giảng viên, từng bước đầu tư phòng thí nghiệm, hạ tầng nghiên cứu và công cụ phục vụ đào tạo, thực hành; hoạt động liên kết đào tạo - nghiên cứu - doanh nghiệp và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh với các đối tác có thế mạnh về bán dẫn tại Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Nhật Bản và châu Âu...
Tuy nhiên, khó khăn hiện nay chính là hệ thống phòng thí nghiệm và trang thiết bị phục vụ thiết kế, chế tạo và kiểm thử vi mạch chưa đồng bộ; thiếu đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực bán dẫn; liên kết với doanh nghiệp công nghiệp bán dẫn còn hạn chế; chính sách hỗ trợ học bổng, thu hút giảng viên và chuyên gia chưa đủ mạnh. Trên cơ sở đó, viện này kiến nghị ưu tiên đầu tư hạ tầng phòng thí nghiệm, hoàn thiện cơ chế thu hút nhân lực chất lượng cao, mở rộng chương trình đào tạo và hỗ trợ người học; tăng cường phối hợp Bộ GD-ĐT và các bộ, ngành liên quan để triển khai các chương trình theo hướng đi vào chiều sâu, thực chất và bền vững.