Mỗi năm, hai trường ĐH Sân khấu-Điện ảnh VN và ĐH Sân khấu-Điện ảnh TPHCM-tính riêng về phương diện điện ảnh thôi - đã cho ra trường hàng chục sinh viên (cả chính khóa lẫn tại chức). Vậy chỉ trong 5 năm trở lại đây đã có tới hàng trăm các chàng trai, các cô gái nhận bằng đạo diễn. Dĩ nhiên không phải sinh viên đạo diễn nào ra trường cũng đi làm phim truyện. Nhưng bạn sẽ vẫn ngạc nhiên, nếu biết điều này: số đạo diễn trẻ được giao phim để làm có thể tính trên đầu ngón tay. Nguyên nhân nằm ở đâu đây?
Cái cắc cớ không dễ tháo gỡ
Nhu cầu phim truyện truyền hình nhiều tập càng tăng tỷ lệ thuận với việc tăng vô tội vạ số kênh truyền hình từ Bắc vào Nam. Và không có gì để “lấp sóng” rẻ, tiện lợi, thu được lời cao bằng mặt hàng phim truyện truyền hình nhiều tập. Cần rất nhiều phim đồng nghĩa với việc cần rất nhiều đạo diễn. Nhưng các nhà sản xuất phim vẫn như “bó tay trong bị” khi muốn tìm được một tên tuổi tin cẩn để giao phim.
Trên địa bàn TPHCM quanh quẩn vẫn chỉ có từng ấy gương mặt: Xuân Phước, Hồ Ngọc Xum, Đinh Đức Liêm, Xuân Cường… tiếp tới là Vũ Ngọc Đãng, Lê Bảo Trung... Sự tín nhiệm có phần “mê tín” này thoạt nhìn tưởng vô lý nhưng lại hoàn toàn dễ hiểu.
|
|
Một cảnh từ phim “Tôi vào đời” của đạo diễn Nguyễn Quốc Hưng (TFS). |
Từ khi việc sản xuất phim truyện truyền hình thoát khỏi nguồn tiền tài trợ của Nhà nước để trở thành mặt hàng kinh doanh của tư nhân, như một quy luật hợp lý và tự nhiên, người bỏ vốn làm phim chỉ nhắm một mục đích: đã làm phim truyện truyền hình thì chí ít phải kéo từ 25, 30 tập trở lên.
Phim nhiều tập có những ưu thế chi phí sản xuất sẽ rẻ, thời gian làm sẽ rút ngắn, sự dễ dãi và thói ẩu tả ở các khâu làm phim cũng được người xem bỏ qua, những người làm phim (tác giả và diễn viên) nhận được tiền “một cục”. Và còn điều này: chỉ phim truyện truyền hình nhiều tập mới tìm được quảng cáo, tức tìm ra đồng tiền lời. Đây nữa, chỉ phim nhiều tập thì “nhà đài” mới nhận được khoản tiền “ăn chia” đáng kể với nhà sản xuất…
Nhà sản xuất thừa hiểu, những bộ phim của họ làm ra đang đi theo lối mòn, đã trở nên “món ăn quen” với người xem. Họ phải tìm tới nguồn năng lượng mới, sức sáng tạo mới cho những bộ phim dự định sản xuất. Như vậy, họ làm sao đủ can đảm giao những bộ phim 30 - 40 tập, tức tổng số kinh phí chừng 5 - 7 đồng tỷ vào tay những đạo diễn trẻ mới ra trường? Lấy gì đảm bảo những chàng trai cô gái kia “đầu óc còn đang bay bổng với biết bao ước mơ, thể nghiệm” lại có thể làm phim đạt kỷ lục quay 2 ngày để chiếu được 45 phút?
Điều đáng nói, đáng kể hơn nữa, những đạo diễn trẻ ấy ngoài bộ phim tốt nghiệp ra, chưa từng chứng minh khả năng làm phim của mình (về cả phương diện tay nghề lẫn sử dụng đồng tiền) qua 1 - 2 tập được công chiếu trên màn ảnh và gây được thiện cảm của người xem.
Bước đệm cần thiết
“Bước đệm” ấy - khi thể loại phim truyện truyền hình mới xuất hiện trên màn ảnh nhỏ và đồng tiền làm phim được Nhà nước tài trợ - lớp đạo diễn ra trường vào những 1994-1995 đã vượt qua một cách suôn sẻ. Vào thời điểm đó, Hãng phim của Đài Truyền hình TPHCM (TFS) đã nồng nhiệt tạo mọi điều kiện để các đạo diễn trẻ làm phim 1 - 2 tập. Vì thế Quốc Hưng có “Tôi vào đời”, Lê Bảo Trung có “Hải âu”, Võ Tấn Bình có “Nắng ở trên đầu”, Vũ Ngọc Đãng có “Vợ chồng chuột”, Nguyễn Quang Dũng có “ Con gà trống”.
Ở phía Bắc cũng diễn ra tình hình tương tự tại Hãng phim Truyền hình Việt Nam (VFC) với tên tuổi của một loạt đạo diễn trẻ đã được khẳng định từ những phim truyện truyền hình 1 - 2 tập như Đỗ Thanh Hải, Phạm Thanh Phong, Vũ Trung Hướng, Đỗ Đức Thành, Vũ Hồng Sơn… Và từ những phim “đầu tay” 1 - 2 tập ấy, dần dà anh em cứng cáp lên trong những phim nhiều tập.
Người trong nghề thừa hiểu rằng ý tưởng, vấn đề hiện thực cần phản ánh, đường dây các tuyến nhân vật... ở phim truyện 1 - 2 tập ít phức tạp, dễ quản lý và tháo gỡ, cũng đồng nghĩa với việc dễ tu chỉnh, sửa chữa hơn ở phim truyện truyền hình 30 - 40 tập nhiều. Đồng kinh phí dành cho phim 1 - 2 tập, cũng vẫn là con số triệu chứ chưa lên số tỷ đồng.
Với phim 1 - 2 tập, nếu thua hoặc chưa thắng đậm ở keo đầu cũng vẫn có đủ năng lực và sự hăng hái để bắt tay vào keo khác. Tất cả đặc điểm kể trên rất phù hợp với các đạo diễn mới bắt tay vào nghề. Ngược lại người quản lý hãng, xưởng phim cũng không phải băn khăn đau đầu nhiều để mạnh dạn giao phim cho các đạo diễn trẻ.
Theo chỗ chúng tôi biết, với một số nước có nền công nghệ điện ảnh tiên tiến, để được giao làm đạo diễn chính của một bộ phim truyện nhựa, sinh viên mới tốt nghiệp nghề đạo diễn phải bỏ ra 5 năm đi theo một vài đoàn phim làm trợ lý và sau đó làm phó đạo diễn. Việc sản xuất phim truyện truyền hình lẽ đương nhiên đơn giản hơn. Nói như vậy không có nghĩa là đạo diễn mới ra trường không cần tới đấu trường thực sự để tỷ thí. Và hơn thế, anh chị em rất cần những tác phẩm được công chiếu đàng hoàng, gây thiện cảm với người xem và sự tín nhiệm đối với nhà sản xuất.
Đừng trông mong có một nhà sản xuất nào chịu thua lỗ để bỏ vốn ra cho đạo diễn trẻ làm phim 1 - 2 tập. Cũng đừng mong mỏi có vị mạnh thường quân ở đâu đó gánh lên vai trách nhiệm này. Vì tương lai của nền điện ảnh dân tộc nhìn tầm xa, vì bản thân chất lượng cần nhanh chóng được nâng cao của phim truyện truyền hình; cả vì để giải quyết sự ổn thỏa giữa việc đào tạo và sử dụng sinh viên các trường nghệ thuật, chính là Nhà nước phải chịu mở túi ra lo cho khâu này.
Chương trình “ Giờ vàng phim Việt” của các đài lớn không khuyến khích phim truyện 1 - 2 tập, phải chăng vì loại phim ít tập không thu được quảng cáo?
Mong Nhà nước hãy chịu thua lỗ về phương diện này - cả ở khâu chi tiền cho việc làm phim và chi tiền mua sóng ở các đài để phát phim 1 - 2 tập - sự hữu ích của đồng tiền bỏ ra chắc sẽ thấy nhỡn tiền!
TÔ HOÀNG |