Những kỷ niệm với “Người ven đô”

Những kỷ niệm với “Người ven đô”

Một buổi sáng đầu năm 1972, cụ Thế Lữ, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam chờ tôi tại cổng Hội Nghệ sĩ sân khấu 51 Trần Hưng Đạo - Hà Nội. Cụ hẹn dẫn tôi đến gặp Bộ trưởng Bộ Văn hóa. Cụ nói chỉ có buổi sáng hôm nay là đúng thời cơ “nhất”, không thể để ngày khác. Cụ Tổng thư ký Hội Lưu Trọng Lư cũng có mặt.

Số là tôi ở chiến trường ra có mang theo một bản thảo viết tay trong tập vở học trò kịch bản “Trận tuyến ven đô” (sau này được đổi thành “Người ven đô”). Tôi chưa biết tìm thầy ở đâu để xin thọ giáo. Có người chỉ tìm nhà thơ Bảo Định Giang - Trưởng tiểu ban văn nghệ miền Nam.

Anh Bảo Định Giang dẫn tôi sang Hội NSSK gặp hai cụ Thế Lữ và Lưu Trọng Lư.

Suốt cuộc kháng chiến đánh Pháp, tôi là cán bộ quân sự chưa một lần viết một tờ bích báo. Sang cuộc chiến đánh nhau với giặc Mỹ, tôi mới tập sự viết báo, viết truyện anh hùng. Còn với giới nghệ sĩ sân khấu tôi hoàn toàn như người “ngoại đạo”. Tôi đến với Hội NSSK như “con nai vàng ngơ ngác”.

May mắn thay cho tôi vừa bước vào ngưỡng cửa tòa nhà “cao vời vợi” ấy tôi lại được gặp ngay hai người thầy, hai người cha đỡ đầu dìu dắt tôi từng bước.  

*** 

Phòng thường trực Bộ Văn hóa treo bảng “Hôm nay miễn tiếp khách”. Anh bảo vệ chào cụ Thế Lữ một cách lễ độ.

Cụ Thế Lữ hỏi:

- Ai chủ trì hội nghị?

- Dạ thưa, đồng chí Thứ trưởng Hà Huy Giáp.

Cụ Thế Lữ cười vui:

- Tốt quá!

Những kỷ niệm với “Người ven đô” ảnh 1

Cảnh trong vở kịch “Người ven đô” .

Cụ xem đồng hồ rồi điềm đạm chống ba-toong đi thẳng vào hội trường. Cụ ra hiệu cho tôi cùng đi theo. Vừa trông thấy cụ, đồng chí Hà Huy Giáp đứng dậy bắt tay ân cần.

Cụ Thế Lữ nói rõ từng lời cố tình cho mọi người cùng nghe:

- Có một cậu bộ đội ở chiến trường Sài Gòn ra. Tôi dẫn cậu ấy đến gặp Bộ...

Một vị cán bộ ngồi cạnh đồng chí Hà Huy Giáp vội chen vào:

- Thưa cụ, hôm nay Hội đồng nghệ thuật thông qua kịch bản sân khấu đã chuẩn bị xong để kịp dàn dựng theo kế hoạch của Bộ.

Cụ Thế Lữ nhỏ nhẹ:

- Đây là món quà quý từ chiến trường mà Bộ Văn hóa đang trông chờ. Thường vụ Hội Nghệ sĩ sân khấu đã nghe tác giả kể chuyện hai buổi và nghe đọc bản thảo. Chúng tôi cho đây là một thứ “quặng” quý hiếm. Tôi đích thân đưa cậu ấy sang trình diện với Bộ. “Thép” đã có, Bộ và Hội cùng nổi lửa giúp sức tác giả luyện thành một thanh bảo kiếm...

Hội trường im lặng. Tôi liếc trộm trông thấy hầu như họ đều là bậc trưởng lão trong nghề. Nhiều ông tóc bạc hoa râm và có đeo kính. Tôi không quen biết người nào.

Chủ tọa phiên họp Hội đồng nghệ thuật đứng dậy nhìn mọi người nói chậm rãi:

- Theo yêu cầu của cụ Thế Lữ, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu, tôi nhất trí chuyển đổi nội dung cuộc họp hôm nay. Tôi mong các đồng chí Hội đồng ủng hộ và xin tác giả kịch bản hôm nay thông cảm nhường lại cho tác giả bộ đội. Hậu phương lớn chúng ta ưu ái trân trọng những gì của chiến trường, của tiền tuyến lớn gởi về.

Tôi giật mình vì những tràng pháo tay vang to và kéo dài.

Tất cả dồn mắt vào tôi - một con chiên mới tinh của “Thánh đường sân khấu”.

Tôi run. Nhưng chỉ vài phút thì lửa đã bốc lên từ những nhân vật kịch Bảy Đờn, Tám Khỏe chuyền sang tôi.

Tôi đọc xong trong một giờ mười hai phút.

Tiếng vỗ tay vang lên. Chính những nhân vật Tám Khỏe, Bảy Đờn đã chinh phục trái tim thính giả.
Cụ Thế Lữ chăm chú lắng nghe những lời trao đổi của đồng nghiệp.

Thứ trưởng Bộ Văn hóa Hà Huy Giáp đi vào phòng riêng một lát rồi trở lại nói vui:

- Hôm nay chúng ta ai cũng đều nhận thấy được một bữa giỗ. Một kịch bản tốt sống động. Bộ mong rằng các đạo diễn, tác giả hết lòng giúp Minh Khoa tạo ra bản anh hùng ca của nhân dân miền Nam, của đồng bào Sài Gòn ruột thịt. Tôi quyết định giao kịch bản này cho Đoàn kịch nói Nam bộ dàn dựng càng sớm càng tốt.

Cụ Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Thế Lữ và đồng chí Thứ trưởng Hà Huy Giáp nắm chặt tay nhau.

***

Có hai chuyện Minh Khoa không thể quên khi nhắc đến kỷ niệm cũ về “Người ven đô”.

Chuyện thứ nhất

Một thính giả đến làm quen với Minh Khoa. Anh tự giới thiệu là tác giả sân khấu, đã có một số vở diễn (có nghĩa anh là đàn anh), giọng nói của anh nửa Bắc, nửa Nam (dân tập kết). Anh mời tôi đi ăn phở Hà Nội nổi tiếng. Anh nói năng lễ phép, ngọt ngào lịch thiệp tiếp người bạn Sài Gòn với vài món nhậu khá sang. Anh uống liên tục hai vại bia. Tôi thì không biết uống bia, cà phê, không hút thuốc nên cứ ngồi im lặng xem anh ăn uống thoải mái. Hai con mắt của anh đã đỏ, còn sắc mặt thì tái dần.

Anh đặt tay lên vai tôi tự nhiên và thiện cảm. Giọng anh nói lắp bắp. Có lẽ anh cũng có sự đắn đo trong lòng:

- Anh cho tôi xin bớt một nhân vật “Tám Khỏe cũng được mà Bảy Đờn cũng được”. Anh là người giàu có nhất hiện nay.

Tôi chưa kịp phản ứng thì anh tiếp tục thuyết khách:

- Một Bảy Đờn ông già mù cũng đủ thành một vở dài. Thừa một Tám Khỏe. Một lão Tám khỏe đã là một vở đầy ắp thừa một Bảy Đờn. Một trận đánh mà anh dùng đến hai “đầu lĩnh” là lãng phí, là thừa, là người giàu có nhất hiện nay.

Tôi trao cho anh ly nước, nói khẽ:

- Bạn nên vào Nam một chuyến. Trong đó còn nhiều Tám Khỏe, Bảy Đờn. Lớp trẻ bây giờ đánh Mỹ ngon lắm. Mặc sức mà chọn lựa khỏi phải xin ai cả...

Chuyện thứ hai

Tôi được Cục Biểu diễn nghệ thuật Bộ Văn hóa mời xem buổi sơ duyệt vở “Người ven đô” vào 7 giờ 30 ngày 18 tháng giêng năm 1975 tại Nhà hát lớn thành phố với sự chủ trì của lãnh đạo Bộ Văn hóa, Hội Nghệ sĩ sân khấu và Hội đồng nghệ thuật.

Vở diễn được chấp nhận với nhiều lời khen.

Bộ trưởng Hoàng Minh Giám kết luận:

- “Đây là một vở về miền Nam mà chúng ta đang mong đợi từ lâu. Bộ yêu cầu Đoàn kịch nói Nam bộ khẩn trương hoàn chỉnh vở diễn càng sớm càng tốt”.

Một vị khách lão thành thổ lộ với trưởng đoàn Bảy Bạch với sự xúc động:

- Một cuộc chiến đấu không cân sức. Kẻ thù Mỹ ngụy dùng sắt thép và sự cám dỗ. Còn đồng bào ta chỉ bằng tấm lòng yêu nước vô song và lòng tin Đảng sâu sắc. “Người ven đô” đã cho khán giả miền Bắc hiểu rõ lòng dân miền Nam... Cám ơn tác giả, cám ơn anh chị em nghệ sĩ...

Cụ Thế Lữ đến bắt tay chúc mừng tác giả. Cụ chỉ cười mỉm.

Cụ Lưu Trọng Lư ôm tác giả một lúc rồi thì thầm:

- Trước khi trở lại chiến trường cậu ghé qua hội nhé! Nhớ đấy!

Tôi không kìm được nước mắt. Làm sao tôi quên được, lúc từ chiến trường ra với tập vở học trò chép bản thảo kịch bản “Trận tuyến ven đô” trong đầu văng vẳng “Minh Khoa đem trứng chọi đá”. Tôi như “con nai vàng ngơ ngác”. Hai người thầy, hai người cha dắt tay tôi đi chập chững từng bước vào “thánh đường sân khấu”.

Ngày 3-2-1975, tại Nhà hát lớn thủ đô Hà Nội “Người ven đô” ra mắt chào mừng kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Đảng.

Báo chí Hà Nội nhiệt liệt chúc mừng sự thành công của Đoàn kịch nói Nam bộ.

“Người ven đô” được tiếp nhận một cách trang trọng.

Tết Nguyên đán, Chủ tịch Tôn Đức Thắng tặng Đoàn kịch nói Nam bộ lẵng hoa. Nghệ sĩ ăn mặc đẹp nhất đón lẵng hoa Bác Tôn từ Phủ chủ tịch về đến trụ sở đoàn một cách tưng bừng. 

MINH KHOA

Tin cùng chuyên mục