Hai mặt của dịch vụ công

Ngày 20-1, tại cuộc hội thảo vùng “Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 - những thể chế hiện đại”, do Trung tâm Nghiên cứu phát triển hỗ trợ cộng đồng - Liên hiệp các Hội KH-KT Việt Nam, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam và Trung tâm Công tác lý luận - Ủy ban TƯ MTTQVN tổ chức, nhiều nhà khoa học, đại điện các ban, ngành của trung ương và các tỉnh, thành khu vực miền Nam được nghe và thảo luận khá sâu quanh bản Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 của các nhà tài trợ thực hiện.

Ngày 20-1, tại cuộc hội thảo vùng “Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 - những thể chế hiện đại”, do Trung tâm Nghiên cứu phát triển hỗ trợ cộng đồng - Liên hiệp các Hội KH-KT Việt Nam, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam và Trung tâm Công tác lý luận - Ủy ban TƯ MTTQVN tổ chức, nhiều nhà khoa học, đại điện các ban, ngành của trung ương và các tỉnh, thành khu vực miền Nam được nghe và thảo luận khá sâu quanh bản Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 của các nhà tài trợ thực hiện.

Vẫn phải “cần” môi giới trong giải quyết giấy tờ

Bản báo cáo dựa vào các cuộc điều tra đối với hơn 9.000 hộ gia đình trên cả nước đề cập đến các vấn đề như đổi mới nhà nước và thể chế, vai trò và tổ chức của nhà nước trung ương, quản trị nhà nước cấp địa phương, các dịch vụ trực tiếp và hành chính, hệ thống pháp luật và tư pháp, giám sát…

Tại cuộc hội thảo, một số nhà bình luận đã đánh giá cao những phân tích của báo cáo. TS Nguyễn Huy Hoàng cho rằng, dựa trên kết quả khảo sát hoạt động mô hình một cửa ở nhiều địa phương, nhóm tác giả bản báo cáo đã đưa ra những nhận định khá tích cực cho mô hình này: “80% số người được hỏi hài lòng với những thay đổi trong lĩnh vực hành chính công tại địa phương, giúp người dân tiết kiệm thời gian so với việc đi qua nhiều “cửa” như trước đây”. Tuy nhiên, các nhà tài trợ cũng chỉ rõ những hạn chế của mô hình này là còn 20% số người được phỏng vấn cho biết họ vẫn cần có sự hỗ trợ của người khác (trong đó, phải nhờ đến môi giới và phải trả thêm tiền ngoài quy định…) để có thể hoàn tất các công việc giấy tờ.

Trong phân tích, đánh giá việc tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, công nghệ thông tin được coi là như mắt xích trọng yếu dẫn đến sự đổi mới trong toàn bộ quy trình cung ứng dịch vụ công.

Báo cáo đã nêu ra những con số đáng mừng là trong 36 tỉnh, thành phố tham gia khảo sát về xây dựng kế hoạch cung cấp các dịch vụ trực tuyến năm 2010, có tới 75% đăng ký và cấp phép kinh doanh qua internet; 72% đăng ký và cấp phép xây dựng qua internet; 33% đăng ký khai sinh và khai tử qua internet; 67% cung cấp dịch vụ kê khai thuế trực tuyến; 69% cung cấp thông tin về các loại hồ sơ, quy trình và giải quyết tố cáo; 53% cung cấp thông tin về các thủ tục đất đai, quy hoạch sử dụng đất và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Dịch vụ công và tính công bằng

Với những phân tích về dịch vụ sự nghiệp công, vấn đề được báo cáo đề cập khá chi tiết và được các đại biểu bàn luận sôi nổi, đó là việc ứng dụng cơ chế tài chính tự chủ cho các đơn vị cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực y tế và giáo dục với mục tiêu tạo ra sự chủ động cho các đơn vị cung ứng, khuyến khích các đơn vị này nâng cao chất lượng và đảm bảo hiệu quả trên cơ sở tăng lợi ích vật chất cho đơn vị và tăng thu nhập cho cán bộ và công chức. Theo cách làm này, tiếp cận cải cách dịch vụ công từ góc độ tài chính sẽ có tác động theo hướng tích cực đến các hoạt động của các cơ quan cung ứng dịch vụ công, họ có quyền chủ động trong việc sử dụng ngân sách, linh hoạt trong bố trí các khoản chi thích hợp cho nhu cầu thực tế, được quyền tăng thu nhập cho người lao động và lập các quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng.

Tuy nhiên, trên thực tế, tại Việt Nam, khi thực hiện cung ứng dịch vụ công, lại có những bất cập trong một số lĩnh vực như giáo dục và y tế. Cụ thể như, trong lĩnh vực y tế, để tạo nguồn thu cho chi trả lương cao hơn đã xuất hiện tình trạng cung cấp các dịch vụ trên mức cần thiết, đặc biệt là khi các khoản phải trả cho các cơ sở y tế chủ yếu dựa trên phí dịch vụ, dẫn tới việc lạm dụng các xét nghiệm, công nghệ và thuốc men đắùt tiền, trong đó, đối tượng phải gánh chịu hậu quả là người bệnh.

Tình trạng tương tự cũng diễn ra trong lĩnh vực giáo dục, một nghiên cứu mới đây do UBMTTQ VN thực hiện tại 4 quận/huyện của TPHCM cho biết thu nhập của giáo viên ở các trường công và mẫu giáo tự chủ về tài chính đều tăng, nhưng không áp dụng các chính sách lương bổng theo năng lực của họ. Trong khi đó mức học phí theo quy định vẫn thấp là nguyên nhân chính dẫn tới tỉ lệ giáo viên thôi việc ngày càng cao. Một số trường học và mẫu giáo thậm chí còn đề nghị bỏ mô hình tự chủ về tài chính.

Các đại biểu đều thống nhất, xu hướng các loại hình dịch vụ ở Việt Nam được cải thiện tiến bộ rõ hơn, nhưng đồng thời cũng cho thấy người dân ngày càng đòi hỏi cao hơn cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Và việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính đối với các nhà cung cấp dịch vụ ngày càng tăng sẽ dẫn tới hạn chế khả năng thụ hưởng dịch vụ đối với người nghèo và nhóm đối tượng thiệt thòi, vì vậy cần giải trình trách nhiệm để tạo sự công bằng. Các vấn đề tham nhũng tồn tại trong các lĩnh vực giáo dục và cung cấp dịch vụ hành chính khác cũng đang làm nảy sinh những lo ngại về tính công bằng, kìm hãm sự phát triển của xã hội.

PHƯƠNG ĐÔNG

Theo ông James Anderson, đại diện Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, chủ nhiệm Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2010, thể chế là các quy định, theo đó các cá nhân, công ty và Nhà nước tác động lẫn nhau. Một trong những hình ảnh trong báo cáo phát triển Việt Nam cho thấy, đây là sự thu nhỏ các thể chế hiện đại và các hoạt động mang tính bản lề đã chứng tỏ Việt Nam đang chuyển đổi. Đó là việc lập kế hoạch ở cấp địa phương với sự tham gia của người dân. Các nhóm dân cư giám sát các công trình công cộng; dịch vụ hành chính hiệu quả với người dân là khách hàng; tư vấn pháp lý cho người dân… Tất cả đều là gốc rễ để có một xã hội hiện đại, cởi mở và hoạt động hiệu quả. Công cuộc đổi mới đã được ghi nhận rộng rãi vì đã đem lại những động lực cho sản xuất và tăng trưởng.

Tin cùng chuyên mục